Bài đăng

Bảo trì máy phát điện định kỳ: mốc giờ chạy nào làm việc gì

Phần lớn nhà máy đặt lịch bảo trì máy phát điện theo tháng. Cách đó dễ nhớ nhưng sai bản chất. Động cơ diesel mòn theo giờ chạy , không mòn theo tờ lịch. Hai tổ máy cùng mua một ngày, một máy chạy 400 giờ một năm, một máy chạy 40 giờ. Cho cả hai cùng một lịch bảo dưỡng là lãng phí ở máy này và thiếu an toàn ở máy kia. Vì sao phải đếm theo giờ chạy Dầu bôi trơn xuống cấp theo số vòng quay và theo nhiệt độ, không theo thời gian treo lịch. Lọc nhiên liệu tắc theo lượng dầu đã đi qua. Ắc quy thì ngược lại: nó hỏng theo thời gian kể cả khi máy đứng yên. Vì vậy lịch đúng phải có hai trục : mốc giờ chạy và mốc thời gian, lấy cái nào đến trước. Chi tiết từng hạng mục xem ở những việc phải làm ở mốc 250 và 500 giờ chạy . Mốc hằng tuần — mười phút, không cần thợ Việc này giao cho nhân viên vận hành, không cần gọi đơn vị bảo trì: Nhìn mức dầu bôi trơn và mức nước làm mát khi máy nguội. Nhìn quanh chân máy xem có vết dầu hay nước rỉ. Đọc điện áp ắc quy trên tủ điều khiển. Dưới 12,4V một ...

Tủ điều khiển máy phát điện: đọc cảnh báo trước khi gọi thợ

Khi máy phát điện báo lỗi và dừng, phản xạ thường thấy ở nhà máy là gọi thợ ngay. Nhưng trước khi gọi, có một việc mất chưa đến hai phút và thường quyết định toàn bộ hướng xử lý: đọc đúng dòng cảnh báo trên tủ điều khiển. Cảnh báo và bảo vệ là hai mức khác nhau Đây là điều hay bị nhầm nhất. Tủ điều khiển có hai mức báo, và chúng mang ý nghĩa rất khác nhau. Mức cảnh báo chỉ báo cho người vận hành biết có thông số đang đi lệch. Máy vẫn chạy. Đây là lời nhắc, không phải lệnh dừng. Mức bảo vệ thì dừng máy. Tủ đã kết luận rằng chạy tiếp sẽ gây hỏng hóc, và nó dừng trước khi điều đó xảy ra. Phân biệt được hai mức này quyết định việc bạn còn bao nhiêu thời gian. Cảnh báo cho bạn vài giờ đến vài ngày để chuẩn bị. Bảo vệ thì không cho gì cả. Chi tiết từng nhóm thông số và ngưỡng của chúng nằm trong bài đọc thông số trên tủ điều khiển máy phát điện . Ba con số đọc trước tiên Màn hình tủ hiện rất nhiều số. Khi máy vừa báo lỗi, chỉ cần ba con số này. Áp suất dầu bôi trơn. Đây ...

Hòa đồng bộ máy phát điện: khi nào nhà máy cần N+1

Nhà máy mở rộng dây chuyền. Phòng kỹ thuật tính ra cần thêm khoảng 700kVA dự phòng. Câu hỏi đưa lên bàn họp luôn giống nhau. Mua một tổ máy lớn, hay hai tổ máy nhỏ chạy song song. Chọn sai ở bước này thì mười lăm năm sau vẫn còn trả giá. Cấu hình nguồn dự phòng rất khó sửa sau khi đã đổ móng và kéo cáp. Một máy lớn và nhiều máy nhỏ khác nhau ở đâu Một tổ máy lớn rẻ hơn tính trên mỗi kVA. Ít thiết bị hơn, ít điểm đấu nối hơn, phòng máy gọn hơn. Nhưng tổ máy đó vào kỳ bảo dưỡng thì nhà máy mất toàn bộ nguồn dự phòng. Hỏng một chi tiết cũng vậy. Nhiều tổ máy nhỏ đắt hơn lúc mua, nhưng giữ được nguồn khi một máy nghỉ. Đây là toàn bộ lý do người ta chấp nhận trả thêm. N+1 nghĩa là gì trong thực tế N là số tổ máy vừa đủ gánh tải thiết kế. Cộng một là một tổ máy dự trữ nằm ngoài con số đó. Tải cần 800kVA, mỗi tổ máy 400kVA. N bằng hai. N+1 nghĩa là lắp ba tổ máy 400kVA. Một máy đi bảo dưỡng, hai máy còn lại vẫn đủ gánh. Nhà máy không phải chờ đến cuối tuần mới dám đụng vào m...

Thuê máy phát điện mùa cao điểm: tính công suất theo tải thật

Tháng cao điểm, nhà máy cần thêm nguồn. Lưới yếu, tải tăng, lịch giao hàng không cho phép dừng một giờ nào. Câu hỏi đầu tiên gần như luôn giống nhau: thuê máy bao nhiêu kVA. Và câu trả lời phổ biến nhất cũng luôn giống nhau: bằng máy đang có trong phòng máy. Đó là chỗ sai tốn tiền nhất trong cả hợp đồng thuê. Máy đang có không phải thước đo tải thật Tổ máy trong phòng máy được chọn từ lúc thiết kế nhà máy. Chọn theo công suất trạm biến áp, cộng hệ số dự phòng cho giai đoạn mở rộng chưa xảy ra. Sau nhiều năm, dây chuyền đổi, thiết bị thay, một số khu tách nguồn riêng. Tải thật hôm nay có thể chỉ bằng một nửa con số ghi trên nhãn máy cũ. Thuê theo nhãn máy cũ nghĩa là trả tiền cho phần công suất không bao giờ dùng tới. Với hợp đồng thuê tính theo tháng, phần chênh đó cộng dồn rất nhanh. Thuê thì logic tính ngược với mua Mua máy là đầu tư mười lăm năm. Phải tính cả dây chuyền sẽ lắp thêm, phải chừa chỗ cho tương lai. Thuê là giải bài toán của đúng ba tháng tới. Không có ...

Máy phát chạy non tải: vì sao mua dư công suất lại làm hỏng máy nhanh hơn

Nhiều nhà máy mua máy phát dư công suất cho chắc ăn. Máy 500kVA cho tải thật 150kW. Suy nghĩ rất tự nhiên: thừa còn hơn thiếu. Nhưng sau hai năm, máy đó hỏng trước cả máy chạy đủ tải ở nhà máy bên cạnh. Ống xả chảy dầu đen. Công suất tụt. Chi phí sửa vượt phần tiền tưởng là tiết kiệm được khi mua dư. Đây là lỗi kỹ thuật ít được nói tới khi chào hàng, vì nó chỉ lộ ra sau vài năm vận hành. Động cơ diesel không thích chạy nhẹ Động cơ diesel đạt nhiệt độ buồng đốt tối ưu khi mang tải 60–80% công suất định mức. Ở mức đó nhiên liệu cháy hết, khí xả sạch, xéc măng làm kín tốt. Khi tải tụt xuống dưới 30%, nhiệt độ buồng đốt không đủ cao. Dầu diesel cháy không hết. Phần chưa cháy đọng lại thành muội trong xy lanh, trên xu páp, trong ống xả và bầu tăng áp. Hiện tượng này trong ngành gọi là chạy ướt. Dấu hiệu nhận biết ngay tại hiện trường: ống xả rỉ chất lỏng đen sệt, khói xả trắng đục kéo dài, máy chạy nghe nặng tiếng. Bốn thiệt hại thật của việc chạy non tải kéo dài Muội bám kí...

Máy phát đủ công suất vẫn không kéo nổi tải: lỗi nằm ở dòng khởi động

Nhà máy mua máy phát đúng theo tổng công suất thiết bị ghi trên nhãn. Mất điện, máy nổ bình thường. Nhưng vừa đóng tải thì máy tụt vòng tua, đèn báo quá tải, rồi dừng. Tình huống này không hiếm. Và nguyên nhân gần như luôn giống nhau: tính công suất theo cách dành cho tải thuần trở, trong khi nhà máy chạy chủ yếu bằng động cơ. Động cơ rút dòng khởi động lớn hơn nhiều lần dòng định mức Động cơ không đồng bộ khởi động trực tiếp rút dòng lớn hơn hẳn dòng định mức trong vài giây đầu. Dòng này giảm dần khi rotor đạt tốc độ, nhưng khoảng thời gian đó đủ để làm sụt áp cả hệ thống. Với lưới điện quốc gia, cú sụt áp này không đáng kể vì công suất nguồn rất lớn. Với máy phát, nguồn chỉ vừa đủ cho tải — nên cú rút dòng đột ngột làm điện áp và tần số tụt ngay. Bộ điều tốc và bộ điều chỉnh điện áp cần thời gian để bù lại. Nếu mức sụt vượt ngưỡng bảo vệ, máy tự ngắt để tự cứu mình. Vì sao cộng kW trên nhãn lại ra con số thiếu Cách tính phổ biến: cộng công suất tất cả thiết bị cần chạy, nhân h...

Phòng máy cho máy phát 800kVA: bốn thứ phải tính trước khi ký hợp đồng mua

Nhiều nhà máy chọn xong công suất máy phát rồi mới tính chỗ đặt. Đó là thứ tự ngược. Với dải công suất lớn, hạ tầng phòng máy quyết định chi phí nhiều hơn chính cái máy. Bài này nói về dải 800kVA trở lên — mức mà mọi sai sót hạ tầng đều thành tiền thật. 1. Tải trọng sàn — con số bị bỏ quên nhiều nhất Một tổ máy 800kVA kèm bệ, két dầu ngày và vỏ chống ồn có khối lượng vượt xa hình dung thông thường. Đặt ở tầng hầm hoặc tầng lửng mà không kiểm tra kết cấu là rủi ro lớn. Việc phải làm trước: lấy bản vẽ kết cấu, đối chiếu tải trọng cho phép của sàn tại đúng vị trí dự kiến. Nếu thiếu, phương án thường là gia cố dầm hoặc chuyển ra nhà máy phát riêng ngoài trời. Chi phí gia cố kết cấu hoàn toàn có thể lớn hơn phần chênh giữa hai thương hiệu máy đang cân nhắc. Tính sớm thì còn đường chọn. 2. Thông gió — sai lầm phổ biến nhất Máy phát dải lớn cần lưu lượng gió làm mát rất lớn. Gió vào và gió ra phải tách biệt, không được quẩn. Ba lỗi hay gặp: Cửa gió vào quá nhỏ so với diện tích két n...